Rơm vàng

Tôi cứ mải miên man, trên đời này không có cây gì quý hơn cây lúa. Đành biết rằng đó là điều hiển nhiên nhưng chắc do tôi một người đã từng sinh ra, lớn lên và gắn bó với đồng ruộng nên cái điều hiển ấy lại cứ lẩn thẩn miên man. Cái khó quên nhất là sự gắn bó với sợi rơm vàng trong những ngày thơ ấu.

                                               

                   Ngày xưa, lũ trẻ chúng tôi, mùa gặt bao giờ cũng là những ngày rộn ràng vui nhất. Tuổi ấy, chưa đủ khôn để hiểu cho hết cái nhọc nhằn của người lớn với đồng ruộng. Chúng tôi trông đến mùa gặt không những để được ăn cơm ngon, gạo trắng mà còn được ngập mình trong những đống  rơm vàng. Trong những đêm trăng trên gò cát trắng, chơi trò trốn tìm, đánh “du kích” không gì khoái bằng chui vào những ụ rơm vàng, đố ai tìm thấy. Lúc đó, rơm đã trở thành đồng lõa, chở che cho mình. Sau mùa gặt cánh đồng trơ gốc rạ, trong đống tóp rạ ông dựng đầu bờ, nấp trong đó đủ đầy cua, ốc. Lũ mục đồng chúng tôi chỉ cần lật từng tóp rạ tha hồ mà bắt cua đồng, ốc bưu rồi lần lận chúng vào lưng quần dây thun. Khi vùng thắt lưng đã lặc lè như gấu mùa đông chúng tôi vơ rơm rạ khô vào ngồi trên đầu bờ cao ngồi nướng.    

                                                                                                   
Sau này, đi đủ mọi phương, ăn uống nhiều nơi nhưng cái mùi,vị của cua đồng, ốc bưu lùi nướng trong rơm rạ của tuổi thơ không bao giờ mất được. Còn đám con gái, tụi nó tìm thấy thú vui ngay trong lúc đun rơm nấu cơm. Lẫn trong rơm còn sót lại những hạt thóc mình mẩy, no tròn khi gặp lửa hạt lúa nổ “lụp bụp”.  Tụi nó cời nhanh những hạt lúa nổ ấy như nhận một món quà. Bà tôi dặn lại cháu con “ cố gắng nhặt những hạt thóc ấy mà ăn, nếu phí phạm, khinh thường sau này chết sẽ hóa thành con vịt để suốt đời mò hạt rơi, hạt rớt ngoài đồng”.

          Với bà tôi rơm như đặc sản của trời ban tặng vậy. Ngày mấy lượt đảo lúa cũng là từng ấy lượt bà đảo rơm. Để cuối mùa là phải “ rơm đầy cây”,       “ lúa đầy bồ”. Trong tất cả nỗi nhớ về rơm, ám ảnh tôi mãi là ngày ông nội gặt đám nếp bầu ở cánh đồng Khe. Gánh lúa nếp về ông để riêng ở góc sân, cái giống nếp bầu này nó thơm từ vỏ trấu thơm đi, đến lạ! Ông tắm rửa sạch sẽ ăn mặc gọn gàng, lụi cụi lăn cái cối đá ra đập lúa. Nhất thiết ông không dùng máy tuốt. Ông nói như vậy sẽ xơ hết cọng rơm. Lúa đập xong ông rũ lấy hết những cọng rơm dài nhất, buộc từng bó nhỏ treo phơi ở mái hiên. Ông không dám phơi ở sân vì sợ anh em chúng tôi dẫm lên làm ô uế. Rơm ấy ông dùng để đốt vào ngày tất niên rồi lấy than tro của nó thay đất, tro trong các bát hương trên bàn thờ. Rơm ấy ông tôi bện thành những cái chổi con nho nhỏ, xinh xắn dùng để quét dọn bàn thờ. Tôi ngồi bên, đợi ông loại bỏ ra những sợi rơm không vừa ý, tôi xin những sợi rơm ấy bện thành những cây bùi nhùi hay con gọi là “con cúi”. Cái “con cúi” thơm nức mũi ấy sẽ là niềm tự hào của tôi trong những ngày đông lạnh lang thang trên đồng thả lưới, câu cá, bắt tôm…

          Lớn lên, theo công việc đi vào Nam ra Bắc, lên rừng xuống biển thỉnh thoảng được ăn nhà hàng, ngủ khách sạn có “ sao” đàng đàng hoàng nhưng sao cứ ước giá có một lần được nằm trong đống rơm của ông ngày nào. Cái mùi rơm nếp bầu thơm mãi suốt năm, suốt tháng khó mà phai nhạt. Tôi vượt qua được những thất bại, những mất mát ở đời có lẽ do tôi có một mùi thơm nồng nàn của nếp bầu đồng làng trong tâm gieo giữ.

          Một chiều, khi vụ mùa lúa đã an yên, tôi dẫn con đi dạo khắp cửa hàng tạp hóa mong tìm được cái chổi rơm nho nhỏ về quét bàn thờ như một tín lễ với tổ tiên nhưng chỉ thấy toàn chổi nhựa, chổi ni lon xanh, vàng, đỏ vô hồn treo bán mọi nẻo. Con tôi và chúng bạn của nó chắc không  hiểu sự trân quý hạt lúa rơi, lúa rụng nếu chưa một lần nhìn thấy cây lúa khi đã vắt kiệt sức mình mà thân vẫn để dâng hiến…

         

Tin liên quan