Hình tượng “ Nhất chi mai” - Một nhân sinh quan sáng ngời

    Ai đã một lần đọc bài thơ “Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác thiền sư chắc hẳn khó quên một nhân sinh quan sáng ngời được thể hiện ở hai câu cuối:

 

 

      

          

                   Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

                   Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Dịch thơ:

                   Chớ tưởng xuân tàn hoa lạc rụng hết

                   Đêm qua sân trước một nhành mai.

          “Xuân tàn - hoa rụng” đó là một quy luật vận động của thời gian, của thiên nhiên. Người xưa vẫn thường nói:

                   Sinh, lão, bệnh tử

                   Xưa nay lẽ thường

          Trong nhãn quan của bậc thiền sư, con người ta không ai có thể thoát ra khỏi cái vòng luân hồi của tạo hóa. Có lẽ vì thế mà “ Trước mắt việc đi mãi- Trên đầu già đến rồi” là một sự thể hiện tất yếu. Vị thiền sư khi  ấy đã về tới bóng xế của cuộc đời mới có thể chiêm nghiệm ra cái chân lý ngọn nguồn của sự sống:

                   Chớ tưởng xuân tàn hoa lạc rụng hết

                   Đêm qua sân trước một nhành mai

Hơn mười thế kỷ đã trôi qua, chúng ta phải giật mình với những câu thơ sâu xa mà đầy ý nghĩa. Dường như trong hai câu thơ ấy có một sự xen lồng, trộn lẫn giữa hai cảm hứng: đạo và đời. “ Đạo” vẫn gắn với “đời” vì vậy thiền sư đã thành thi sĩ.  “ Đời vẫn gắn với “ đạo” vì thế câu thơ mới mang nặng triết lý nhân sinh. Bởi thế mà hình ảnh “ xuân tàn hoa rụng” ở đây không hẳn là định mệnh. Nó cũng đâu phải chỉ là một tiếng thở dài bất lực. Giữa cảnh xuân tàn bỗng lại nẩy nở ra một nhành mai. Nó xuất hiện dường như là để níu kéo mùa xuân quay trở lại hay là để nuối tiếc một thời xuân đã qua. Trong thơ xưa có      “ tảo mai” ( mai nở sớm, báo tin vui) và “vãn mai” ( mai nở muộn). Cảm xúc bao trùm ở hầu hết những bài viết về “vãn mai” là buồn thảm, gợi nên cảnh xuân tàn, nói đến những cảnh li sầu biệt hận. Mai trong thơ của Mãn giác thiền sư cũng là “vãn mai”  nhưng đã thể hiện những cảm quan tươi sáng về cuộc đời. Người xưa từng quan niệm “ Cảnh tự tâm sinh” ( cảnh sinh ra là do tâm). Cảnh đẹp và tươi sáng phản ánh cái tâm đẹp và trong sáng. Có lẽ phải yêu mùa xuân lắm, yêu thiên nhiên, yêu đời lắm thì Mãn giác thiền sư mới có thể viết ra những lời thơ “ thần” như thế.

          Nét đẹp thanh tao, quý phái, trang trọng mà đầy ý nghĩa của hoa mai đã đi vào trong thơ của rất nhiều thi gia. Đây là hoa mai - tín hiệu báo xuân về: 

                   Nghe nói xuân về chưa được gặp

                   Đến gần mai lạnh hỏi tin sương

                                                          ( Lý Bạch)

Đây là hoa mai- kỳ phùng địch thủ của tuyết- vì chỉ có hoa mai, lẫn tuyết và thơ nữa tạo nên một mùa xuân hoàn mỹ.

                   Nhật mộ thi thành thiên hựu tuyết

                   Dừ mai tích tác thập phần xuân

                                                   ( Lư Mai Pha)

                   ( Chiều làm thơ xong lại có tuyết

                   Cùng với mai gộp lại thành mùa xuân trọn vẹn)

Và nói đến mùa xuân, không ai có thể quên được những bài thơ đặc sắc của Nguyễn Trãi. Mùa xuân trong thơ ông tuy không có mai nhưng lại thắm đượm một niềm tin bất diệt:

          Trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn

          Đầy sân mưa bụi nở hoa xuân

                                      ( Cuối xuân tức sự)

Hoa xoan đã nở khi xuân đã muộn. Phải chăng đây là niềm tin, là sự lạc quan của tác giả.

Dường như đã có một sự giao cảm vô hình, một sự đồng điệu giữa Mãn Giác thiền sư và Nguyễn Trãi. Hai con người cách nhau hàng trăm năm nhưng đều say đắm trước cảnh sắc xuân. Dù cho mỗi con người có một quan niệm, một cách sống, cách biểu hiện khác nhau nhưng họ đều có chung một vạch xác định đầu tiên - ấy là lòng yêu đời mà con người ta vốn có.

Mùa xuân không những ẩn chứa những tinh túy của đất trời mà còn mang tới cho đời hoa thơm mật ngọt và biết bao điều hứa hẹn. Mùa xuân đâu chỉ là một khái niệm thời gian vô cảm. Nó còn là tình yêu trần thế muôn thuở của con người. Với Mãn Giác thiền sư mùa xuân đọng lại biết bao điều.

          Đêm qua sân trước một nhành mai

Hình ảnh “ nhất chi mai” hiện lên thật sống động, tươi tắn. Nó đã điểm nhãn cho cả câu thơ. Một nhành mai không những biểu tượng cho mùa xuân mà còn cộng hưởng với mùa xuân tạo nên hai vẻ đẹp thiên nhiên đầy sức sống. Nó làm rung động trái tim một vị thiền sư- một hồn thi sĩ.

Phải chăng hai câu thơ kết của bài thơ “Cáo tật thị chúng” chính là một thông điệp lạc quan, một niềm tin không giờ tắt vào sự sinh sôi nẩy nở của vũ trụ diệu kỳ. Dường như phía sau chiếc áo cà sa của một vị tu hành khổ hạnh có một trái tim luôn dành tình yêu cho cuộc đời trần thế?

Bài thơ đã khép lại vậy mà cái dư âm của hình tượng “ nhất chi mai” đã trở thành nét gạch ngang tạo ra mối liên kết giữa cuộc đời và văn chương đích thực.

 

                                             

Tin liên quan