Tết xưa ở quê

Một mùa xuân nữa đang về, hàng mai vàng trước nhà đã được lặt hết lá, đang kết nụ đơm hoa. Quê tôi lại nao nức chuẩn bị đón Tết.

          Quê tôi nằm dọc hai bên bờ sông Bến Ván, từ Cửa biển lên đến tận nguồn. Xưa, hầu như làng nào cũng có vài cái bến để cập những chuyến đò ngang từ làng này với làng kia, và những chuyến đò dọc từ  các làng tận cửa biển đem cá, mực, mắm, muối lên rồi chở lúa, khoai , sắn về... Các làng mạc vùng thượng nguồn nhà nào cũng có mai vàng đón Tết, không những một cây mà cả một hàng. Từ sân nhà này kéo qua sân nhà khác. Khi Tết về từ đầu làng đến cuối xóm ngút ngàn một màu vàng rực rỡ. Từ ngõ dẫn vào sân là một lối hoa vàng hòa trong  nắng khiến cho nhà nhà bừng sáng rộn rã hẳn lên. Không ở đâu mà nét xuân lại đẹp, lại trong trẻo đến thế. Ngày ấy, mỗi khi Tết về  những người có thú chơi mai ở thị trấn thường  đến quê tôi để mua những cành mai đẹp, hợp ý  chưng trong những ngày Xuân. 

          Ngày xưa, Tết ở quê thật là đúng Tết. Nhà nhà có thói quen lo Tết từ việc trữ củi để nấu Tết cho đến chuyện may quần áo mới cho con trẻ. Những ngày cận Tết vui không kể hết, tiếng chày quyết bánh hòa lẫn với tiếng đùa giỡn ồn ã của các chị, các cô xúm xít học tập lẫn nhau về cách thức làm bánh. Vùng quê vốn ngày thường rất yên ả giờ đây nhộn nhịp hẳn lên. Từ ngày 25 tháng chạp trở đi mấy bà, mấy chị bắt đầu trổ tài làm bánh, mứt đầu tiên là các loại bánh khô: bánh in, bánh nổ, bánh bông lan, khô khảo, củ gừng…tiếp đến bánh lăn, bánh đòn và các loại mức như gừng, dừa, bí đao… cuối cùng là bánh tổ, bánh chưng, bánh tét. Trong những ngày làm bánh các chị thường trao đổi với về công thức, quy trình làm bánh, mứt rồi khoe sản phẩm với nhau để xem của ai đẹp hơn, ngon hơn. 

          Còn cánh đàn ông mạnh tay, mạnh chân thì lo kiếm cũi gộc, tát đầm, tác đìa bắt cá ăn Tết. Những con cá lóc mùa này mập ú, tròn lẳn được các nhà rộng trong các ảng nước để dành chiêu đãi khách, nhất là sau những ngày thịt thà, ngán ngấy, thừa mứa mà có món cá lóc nướng rơm thì tuyệt không chi bằng. Sáng ba mươi, từ tờ mờ sớm chái bếp tỏa lên làn khói đậm, dày, cao ngày thường, nó chờn vờn trong sương sớm đó là khói của bếp lửa nấu nước nóng làm heo. Tiếng heo “ eng éc” vang lừng bên thành giếng. Người lớn cạo lông, mổ thịt, đám trẻ con háo hức đứng nhìn chờ cho cái bóng lợn để làm quả banh.

          Chiều ba mươi, khi nồi bánh tét được dỡ ra thì cũng là lúc các anh thanh niên khiêng chậu hoa mai đẹp nhất từ vườn vào nhà chưng Tết. Chậu mai được để giữa nhà, sắp nhỏ lấy những tấm bưu ảnh, thiệp xuân chúc mừng năm mới treo lủng lẳng trên những cành mai. Bình hoa cùng mâm Ngũ quả được dâng lên bàn thờ tổ tiên theo nguyên tắc “ Đông Bình - Tây quả”. Công việc chuẩn bị Tết xem như hoàn tất, bắt đầu làm lễ rước ông bà, tổ tiên về ăn Tết. Con cháu quay quần, xúm xít một nhà đông vui. 

          Sáng mồng Một  sau đi viếng mộ  người thân, dâng hương tổ tiên, ông bà  ở nhà thờ tộc mọi người đổ lên chùa thành tâm bái phật đầu năm, cầu nguyện một năm an khang, thịnh vượng, ấm no, hạnh phúc, cầu quốc thái, dân an thế giới hòa bình. Tết quê tôi thật đầm ấm, sum vầy và hứng khởi với những trò chơi tao nhã…

          Yêu làm sao cái Tết ở quê. Dù cuộc sống có nhiều đổi thay thì mong rằng Tết quê hãy mãi mãi là như  thế, hãy giữ những nét xuân trong trẻo để những người con đi xa có một cõi đi về. Trời đất giao hòa. Thành phố và nông thôn giao hòa đem đến cho nhau một niềm vui bất tận.

 

                                                

               

Tin liên quan