Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và việc đổi mới công tác cán bộ hiện nay

Tháng 10 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh, với bút danh X.Y.Z. đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” làm tài liệu cho tổ chức Đảng các cấp và cán bộ, đảng viên học tập, rèn luyện, tu dưỡng.

Tác phẩm có ý nghĩa không chỉ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp mà đến tận ngày nay vẫn còn nguyên giá trị và mang tính thời sự,  nhất là phần Người đã dành để viết về vấn đề cán bộ, luôn là những bài học quý báu không chỉ đúng với hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, mà còn giữ nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn đối với việc đổi mới cán bộ, công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Việc đọc, học, nghiên cứu về nội dung ý nghĩa, giá trị lý luận, thực tiễn của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; giáo dục, rèn luyện, đổi mới tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong giai đoạn hiện nay. Là một giải pháp thiết thực cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Nhận thức sâu sắc vị trí và tầm quan trọng của cán bộ, để cán bộ đáp ứng được yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn, trong Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dành nguyên Chương IV để nói về “Vấn đề cán bộ”, mà trong những chương khác của tác phẩm, Người cũng đều nói về những vấn đề liên quan đến cán bộ. Một trong những vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tâm nhất là những tật bệnh nguy hiểm đang tồn tại trong Đảng và hệ thống chính trị lúc đó. Trong tác phẩm này, Người chỉ rõ các bệnh chủ quan; bệnh hẹp hòi; bệnh khai hội; bệnh nể nang; bệnh tham lam; bệnh lười biếng; bệnh kiêu ngạo; bệnh hiếu danh; thiếu kỷ luật; óc hẹp hòi; óc địa phương; óc lãnh tụ; bệnh “hữu danh vô thực”; kéo bè kéo cánh; bệnh cận thị; bệnh “cá nhân”; bệnh tị nạnh; bệnh xu nịnh, a dua; bệnh quan liêu; bệnh bàn giấy; bệnh nóng tính; bệnh lụp chụp,v.v..(1) đang đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng; đồng thời yêu cầu toàn Đảng “phải cố sửa chữa cho tiệt nọc các chứng bệnh, khiến cho Đảng càng mạnh khỏe, bình an”.

Theo Người, để mỗi cán bộ, đảng viên trở nên tốt hơn, tự soi, tự sửa được những thói hư, tật xấu của mình, thì trong mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên đều phải quán triệt sâu sắc, 3 điều sau:                                           Thứ nhất: Thang thuốc hay nhất và hữu hiệu nhất để chữa các chứng bệnh nêu trên chính là “thiết thực phê bình và tự phê bình”.                                       Thứ hai: “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt để đoàn kết và thống nhất nội bộ. Vì vậy, phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người” (2).                                             Thứ ba:  Đối với các khuyết điểm, phải có thái độ phân tích rõ ràng đúng, sai; ra sức tranh đấu để sửa chữa khuyết điểm, không để khuyết điểm phát triển, có hại cho Đảng; không máy móc trước các khuyết điểm, mà phải “luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình”; đồng thời phải “đoàn kết Đảng bằng sự tranh đấu nội bộ. Nâng cao kỷ luật và uy tín Đảng” (3)

Theo Người, làm được như vậy thì cả cán bộ và công tác cán bộ của Đảng đều “khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”.

Đổi mới cán bộ và công tác cán bộ theo Nghị quết Đại hội XIII của Đảng

Trong Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: “Trong mỗi giai đoạn, cần phải luôn luôn cất nhắc những người hăng hái trong giai đoạn đó, để thay thế cho những người cũ bị đào thải, hoặc vì tài không xứng chức, hoặc hủ hoá” (4). Thực tế cũng cho thấy, hơn 92 năm  qua từ ngày thành lập cho đến hôm nay Đảng ta đã trải qua 13 kỳ Đại hội, Đảng luôn xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên được trang bị lý luận Mác - Lênin, kiên định lý tưởng cách mạng, giỏi về vận động và tổ chức, tập hợp, đoàn kết và lãnh đạo quần chúng nhân dân làm cách mạng, đấu tranh giành chính quyền thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; kiên trì tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) để vừa xây dựng chế độ xã hội mới, góp phần bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, vừa giải phóng miền Nam, thống nhất cả nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong mỗi bước chuyển của cách mạng, tùy vào nhiệm vụ cụ thể của từng thời kỳ, những yêu cầu về tiêu chuẩn và nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên cũng thay đổi, song yêu cầu có tính nguyên tắc theo Người là mỗi cán bộ, đảng viên đều phải là những người vừa có đức vừa có tài, phải xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải “trọng lợi ích của Đảng hơn hết”; phải có “năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm” (5); đồng thời, ở bất kỳ hoàn cảnh nào cũng “cần phải luôn luôn ra sức phấn đấu, ra sức làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ văn hóa, trí thức và chính trị của mình. Luôn luôn giữ gìn kỷ luật” để xứng đáng “là một trong những người đại biểu của dân tộc”.

Thực tế yêu cầu của sự nghiệp cách mạng hiện nay đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên của Đảng không chỉ phải kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, có trình độ khoa học kỹ thuật cao, mà còn phải có nghiệp vụ, kỹ năng quản lý, quản trị chất lượng theo tiêu chuẩn của từng cấp để đảm đương trọng trách điều hành nền kinh tế, nền hành chính quốc gia. Vì thế, bên cạnh việc thực hiện đồng bộ các giải pháp để sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ hiện có, thì việc tiếp tục phải đổi mới cán bộ và công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ” và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ, sự gương mẫu, tinh thần vì nhân dân phục vụ của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt và người đứng đầu các cấp” (6) là một tất yếu lịch sử, là một đòi hỏi bức thiết của sự nghiệp cách mạng.

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”(7). Từ đó: Một mặt, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức Đảng, các ban, ngành chức năng, nhất là người đứng đầu về công tác cán bộ; đẩy mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng, phòng và chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ gắn với thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"; mặt khác, phải “tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo công tác cán bộ, cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy”(8) gắn với việc dựa vào nhân dân để theo dõi, kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên…

Đặc biệt, phải “xử lý nghiêm, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật của Nhà nước và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ đã vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu” và đi liền cùng đó là đào thải những người “tài không xứng chức”, những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" hay những “cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội… để xuyên tạc, kích động, gây mấy đoàn kết nội bộ”(9) ra khỏi đội ngũ, để làm trong sạch Đảng và hệ thống chính trị.

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Sửa đổi lối làm việc nói chung, vấn đề cán bộ trong tác phẩm nói riêng luôn được Đảng chú trọng, vận dụng phù hợp với mỗi giai đoạn cách mạng. Vì thế, chúng ta tin tưởng rằng, tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những hạn chế, cán bộ và đổi mới công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII đã và đang được triển khai sinh động trọng thực tiễn sẽ xứng đáng với niềm tin tưởng và sự kỳ vọng của Đảng và Nhân dân!

Tin liên quan